SỨC KHỎE MÙA DỊCH: XÔNG HƠI – CÁCH ĐÃ THÔNG ĐƯỜNG HÔ HẤP

Giữa đại dịch viêm đường hô hấp do Virus corona mới – Covid-19 đang diễn biến tạp gây ra những hậu quả nghiêm trọng trên toàn thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, mỗi người trong chúng ta cần có ý thức phòng chống, tự bảo vệ sức khỏe cho bản thân và gia đình tránh khỏi dịch bệnh. Ngoài những khuyến cáo của Bộ Y tế thì phương pháp xông hơi sẽ giúp đã thông đường hô hấp, tăng cường sức khỏe.

Nguồn ảnh: Internet

Xông hơi vốn là cách trị bệnh cảm lạnh rất quen thuộc của người Việt Nam. Xông hơi giúp sưởi ấm cơ thể, sát trùng đường hô hấp, làm loãng dịch mũi, cung cấp độ ẩm cho niêm mạc mũi bị khô giúp thông thoáng đường hô hấp , giảm nghẹt mũi và các triệu chứng của bệnh viêm xoang. Như chúng ta đã biết Corona là virus liên quan đến đường hô hấp vì vậy việc xông hơi đã thông đường hô hấp sẽ phần nào giúp ngăn chặn sự lây nhiễm của virus corona.

Xông hơi chữa khó thở
Xông hơi sẽ đưa không khí ẩm và ấm vào phổi qua mũi và họng, từ đó làm giãn xoang, giúp cho bạn dễ thở hơn. Hơi ẩm và ấm cũng sẽ thu nhỏ dịch nhầy, khiến nó dễ dàng bị đẩy ra hơn. Việc này sẽ làm thông mũi, làm dịu sổ mũi và hắt hơi. Xông hơi cũng giúp bôi trơn đường hô hấp bị kích ứng, vì thế sẽ giúp giảm sự khó chịu ở mũi.

Xông hơi chữa đau đầu
Xông hơi giúp giảm bớt áp lực tích tụ trong xoang, làm dịu lớp màng nhầy và giúp thông mũi, từ đó cũng giúp giảm đau đầu. Ngoài ra, xông hơi còn gia tăng độ ẩm cho hốc mũi, giúp giảm dịch nhầy và giảm tắc mũi giúp giảm cơn đau đầu.

Xông hơi giảm căng thẳng
Nhiệt độ ấm từ hơi nước giúp cơ thể giải phóng các endorphin, một chất hóa học cho cảm giác thoải mái, giúp giảm đi rất nhiều ảnh hưởng của sự căng thẳng. Ngoài ra, endorphin cũng giúp bạn ngủ yên giấc hơn.Trên hết, nhiệt độ ấm của hơi nước gia tăng lưu thông máu, giúp thư giãn các cơ. Hơn nữa, nhiệt độ cao của hơi nước làm thông thoáng đường thở, giúp cải thiện hô hấp hỗ trợ trong việc thư giãn tinh thần và cơ thể.

Xông hơi giúp thải độc
Khi xông hơi, hơi nóng khiến đổ mồ hôi, giúp đẩy hết những độc tố ra khỏi cơ thể. Trên thực tế, xông hơi khoảng 15 phút có thể giải thoát cơ thể khỏi mồ hôi và những sản phẩm thải. Ngoài ra, hơi nước cũng gây ra một hiện tượng được gọi là sự giảm nhiệt của cơ thể, ở đó các virus, vi khuẩn và những độc tố khác không thể sống sót.

Ngoài tốt cho sức khỏe xông hơi còn giúp cải thiện tóc và làn da.

Cách xông hơi tại nhà hiệu quả:
– Nguyên liệu gồm có: sả, gừng đập dập, chanh hoặc vỏ bưởi, cam, một ít muối hột để giữ nhiệt lâu hơn.
– Bỏ tất cả nguyên liệu vào máy xông mặt hoặc nồi nước nhỏ đậy kín nắp, đun sôi cho ra tinh dầu.
– Đặt nồi xông trên mộ mặt phẳng chắc chắn.
– Trùm một tấm khăn tắm qua đầu giống như một chiếc lều để giữ hơi nước lại bên trong.
– Cúi mặt và hít hơi nước phía trên nồi xông.
– Thời gian xông từ 15-20 phút

Có thể thấy xông hơi là một liệu pháp đa năng cho vấn đề sức khỏe mà lại rất đơn giản, dễ làm và ít tốn kém. Thực hiện phương pháp xông hơi đều đặn một tuần từ 2 – 3 lần, mỗi lần từ 15-20 phút để để bảo vệ và tăng cường sức khỏe trong mùa dịch bệnh.


bởi Phan Uyên

Mùa Xuân bất tận

Theo vòng tuần hoàn của thời gian, mùa Đông đi qua, mùa Xuân lại về. Không lạnh giá như mùa Đông, không nắng chói chang như mùa Hè, không man mác buồn như mùa Thu, mùa Xuân mang không khí ấm áp, dịu hiền và tươi vui. Nơi nơi đều đón Xuân, vui Xuân và tận hưởng những vẻ đẹp tươi mới, trong lành của thiên nhiên mà Tạo Hóa ban tặng cho loài người. Nhưng mùa Xuân của đất trời rồi cũng sẽ nhanh chóng trôi qua, vậy chúng ta sẽ tìm nơi đâu để có được một mùa Xuân bất tận?

Nguồn ảnh: unsplash

Mùa Xuân của đất trời
Xuân đến, Xuân đi Xuân lại về“. Mùa Xuân đến như một liều thuốc cho vạn vật trở nên tươi tốt, đứng hẳn lên phô bày toàn diện vẻ đẹp huy hoàng và sức sống sung mãn của mình. Những cây cối trơ cành đầy sương giá của mùa Đông đã được thay một màu áo mới xanh tươi. Đàn chim đi trú rét phương xa cũng ríu rít trở về chao nghiêng trên bầu trời. Hoa mai, hoa đào và muôn loài hoa khác cũng đua nhau khoe sắc dưới nắng xuân. Bàn tay của Tạo Hóa đã khéo léo điểm tô cho mùa Xuân những sắc màu rực rỡ, ấm áp nhất. Nếu như một ngày nào đó mùa Xuân không đến thì có lẽ vạn vật sẽ u buồn biết mấy. Mùa Xuân không tự đến cũng không tự mất đi nhưng nó được sắp đặt và được tể trị bởi quyền năng của Đấng Tạo Hóa. Thiên nhiên vũ trụ chính là quyển sách nói với chúng ta về Đấng Tạo Hóa và chính Ngài là tác giả của quyển sách ấy.

Mùa Xuân của tâm hồn
Cũng giống như những cây cỏ, chim muông mùa Xuân cũng mang đến cho con người biết bao niềm vui, hạnh phúc. Thời điểm kỳ diệu của mùa Xuân khiến tâm hồn người ta bừng lên sự sống mới. Người ta vẫn thường hay ví mùa Xuân với tuổi trẻ của đời người. Dù cho đang ở độ tuổi nào đi nữa, nhưng chắc hẳn ai trong chúng ta cũng ước ao luôn có được những những tuổi xuân vui tươi trong cuộc đời. Mùa Xuân thiên nhiên chỉ đến một lần trong năm, tuổi xuân của con người cũng chỉ có hạn. Nhưng ở đây chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu về mùa Xuân trong tâm hồn chính là thời gian vui tươi hạnh phúc và tràn đầy sức sống mà mọi người được hưởng. Ai cũng mong muốn có được tuổi xuân trong sức khỏe, trong tâm hồn, trong tình cảm cũng như tuổi xuân trong việc làm. Tuy nhiên trong thực tế thì mùa Xuân đến rồi cũng sẽ đi trong cuộc đời.

Vậy thì làm thế nào để có mùa Xuân mãi mãi? Và quan trọng hơn là làm thế nào để có được mùa Xuân đó?

Tuy mùa Xuân của thiên nhiên đã về với mọi nơi, với mọi người nhưng cũng vẫn còn những nơi u buồn, lạnh lẽo vì không có Chúa Xuân.

Ba yếu tố quan trọng của mùa Xuân là sự sống, thay đổitươi mới. Vào mùa Đông thì cây trụi lá, có những cây trông giống như những cành khô nhưng khi Xuân về cây sẽ đâm chồi, nứt lộc. Bởi lẽ sự sống đã tiềm tàng trong những cành khô ấy. Thay đổi từ bên trong, thể hiện ra bên ngoài và đem lại kết quả tươi đẹp. Đời sống con người cũng vậy, chúng ta cần có sự sống, để rồi có thay đổi và sẽ luôn luôn tươi mới.

Nguồn ảnh: pixabay

Sự sống thì ai trong chúng ta cũng có. Nhưng sống ở đây là sự sống thật, sự sống viên mãn, sống với đầy ý nghĩa như mùa Xuân. Để có mùa Xuân trong tâm hồn, điều đầu tiên chúng ta cần có là sự sống, sự sống đến từ Thiên Chúa vì Ngài chính là Nguồn sống. Thiên Chúa không chỉ tạo dựng nên mùa Xuân của đất trời mà còn mang đến mùa Xuân cho cuộc đời con người. Thiên nhiên cần mùa Xuân, con người cũng cần mùa Xuân nhưng không thể tự tạo ra mùa Xuân. Chỉ có Đấng Tạo Hóa mới có thể mang đến cho nhân loại mùa Xuân, biến đổi những tâm hồn băng giá trở nên mùa Xuân ấm áp. Ngài đến để trút đi gánh nặng của những linh hồn khổ đau trong tội lỗi. Ngài đến để đem sự sống mới dư dật, đem bình an cho những ai đón nhận Ngài. Chính Thiên Chúa là mùa Xuân, là Chúa Xuân của vạn vật, và nhân loại. Sự hiện diện của Thiên Chúa như mùa Xuân bừng dậy trong lòng những kẻ tin nhận Ngài. Nỗi thống khổ nặng nề trong tội lỗi được vứt bỏ, bình an và hy vọng trong tình yêu Thiên Chúa. Sự sống của Thiên Chúa tuôn trào trong những ai tìm cầu và tôn thờ Ngài. Đón Thiên Chúa vào lòng cuộc đời sẽ tự nhiên được thay đổi như cây cỏ đến mùa Xuân thì được thay đổi. Sự thay đổi này mang tính cách liên tục, cho nên đời sống sẽ luôn luôn tươi mới, lúc nào cũng là mùa Xuân. Mùa Xuân bắt đầu với đức tin nơi Thiên Chúa và chỉ kết thúc trong cõi vĩnh hằng. Nhà thơ Xuân Diệu từng viết “Xuân chưa tới nghĩa là Xuân đang qua” nhưng có một điều khác, mùa Xuân trong Chúa Cứu Thế Giê-xu, là mùa Xuân bất tận còn mãi trong tâm hồn. Nếu trong lòng có mùa Xuân thì mỗi ngày mới đến đều là một ngày Xuân.

Tuy mùa Xuân của thiên nhiên đã về với mọi nơi, với mọi người nhưng cũng vẫn còn những nơi u buồn, lạnh lẽo vì không có Chúa Xuân. Trong những ngày Xuân chúng ta vui tươi, hạnh phúc nhưng khi Xuân qua đi tâm hồn lại trở nên u hoài. Một cuộc đời cũ kĩ cần được làm tươi mới lại như cành cây ra đâm chồi nảy lộc vào mùa Xuân.

Vì vậy hãy mời Chúa của mùa Xuân vào lòng để cuộc đời được đổi thay và luôn tươi mới như mùa Xuân. Tận hưởng mùa Xuân của thiên nhiên, và mùa Xuân trong tâm hồn mà Thượng Đế ban tặng cho con người. Mùa Xuân chỉ thật sự trọn vẹn khi trong lòng có Thiên Chúa của mùa Xuân ngự trị.


bởi Phan Uyên

Suy ngẫm năm mới: văn hóa cầu xin của người Việt

người Việt, chúng ta khá quen thuộc với các truyền thống, cách thức mà mỗi người mỗi nhà cầu xin cho năm mới. Tuy vậy, hãy dành ít phút suy ngẫm đến việc cầu xin này có thực sự quan trọng hay không?

Nguồn: Báo Sống Mới

Tết đến, Xuân về, ngay trong khí trời cũng chứa đựng những nôn nao của thời điểm giao mùa, là thời điểm khởi đầu cho một năm mới. Lòng chúng ta háo hức cho những thời khắc của năm mới cùng với những hy vọng cho một năm tốt đẹp cho cá nhân và người thân.

Ký ức của tôi về những ngày Tết là những công việc tất bật chuẩn bị, dọn dẹp, trang hoàng nhà cửa, và mỗi gia đình đều chuẩn bị một mâm cỗ cúng gia tiên rất to để chuẩn bị cho giờ khắc giao thừa. Theo như lời giải thích của mẹ thì đây là việc mà dịp Tết hàng năm mỗi gia đình cũng cần phải làm để cầu xin Trời, Phật, tổ tiên phù hộ cho một năm mới có sức khỏe, ăn nên làm ra, công thành danh toại… Qua đêm giao thừa, việc đi lễ chùa vào những ngày đầu năm cũng là một truyền thống lâu đời của người Việt.

Người Việt đến chùa không đơn giản chỉ là để dâng các ước nguyện, mà còn để hòa mình vào chốn tâm linh, gạt bỏ đi những lo toan vất vả của cuộc sống. Người người cầu mong cho sức khỏe, bình an, mong cầu Thần Phật phù hộ cho con cái, cho công việc làm ăn, mua may bán đắt, thăng quan tiến chức… Nhiều người than thở rằng, nền văn minh vật chất phát triển quá nhanh trong khi nền văn minh tinh thần lại không thể theo kịp. Có người đến chùa là để tìm lối thoát cho những khúc mắc trong cuộc sống của bản thân trong hôn nhân, tình trạng sức khỏe, khủng hoảng tài chính, bế tắc trong các mối quan hệ…

Thế nhưng, việc đi lễ chùa xin lộc đầu năm đã có nhiều biến tướng, đến mức độ phản văn hóa. Người ta quan niệm rằng: phải đến những ngôi chùa nổi tiếng mới có thể “giải bày lòng mình” với thần thánh. Chính vì vậy, chẳng mấy ai cảm thấy “yên tâm” dù đã ghé qua ngôi chùa cổ kính tĩnh lặng của làng bản mình sinh sống. Họ phải đi bằng được đến một danh thắng nào đó mới thỏa lòng… thành kính Thánh, Phật. Họ “hối lộ” các vị thần bằng tiền giấy giả, bằng mâm cao cỗ đầy và mong thần phù hộ họ trong mọi việc. Một số khác thì tới chùa cầu xin mà không biết là mình đang cầu xin ai. Họ cũng không biết vị thần mà họ đang cầu xin có thể ban cho họ một điều gì đó hay không.

Nguồn: Tinhhoa

Vậy những câu hỏi ở đây là:
– Việc cầu xin những điều tốt đẹp cho một năm mới có thực sự quan trọng hay không?
– Với nhiều “vị thần” như vậy theo tín ngưỡng của người Việt Nam thì vị thần nào mới thực sự là vị thần có thể ban cho chúng ta những điều mà chúng ta cầu xin?

Năm mới đến, chúng ta thường ngồi xuống, tổng kết lại một năm cũ và lên kế hoạch cho một năm mới. Và khi lập kế hoạch, ắt hẳn ai cũng sẽ mong muốn những kế hoạch mà bản thân đề ra sẽ được thực hiện một cách suôn sẻ. Đứng trước thềm năm mới, ai ai cũng hy vọng rằng những điều may mắn và tốt đẹp sẽ đến với mình. Vì vậy, ai cũng đem những mong ước của mình đến với một vị thần để cầu xin vị thần đó giúp đỡ cho kế hoạch của mình.

Mối quan hệ giữa con người và thần thánh ngày nay đã bị “biến tấu” thành mối quan hệ có điều kiện. Khái niệm cầu xin và ban cho có vẻ không còn tồn tại mà thay vào đó là sự “mua bán phước hạnh. Rất nhiều người cho rằng dâng cho thần của càng nhiều thì thần sẽ phù hộ. Lối quan niệm này đã trở nên hành vi vô thức, đến nỗi người Việt không còn cảm thấy sự vô lý trong những việc mà bản thân đang thực hiện.

Hãy ngẫm nghĩ một chút: Nếu một vị thần với lòng thương xót, từ bi, sẵn sàng ban cho, thì “vị” đó có cần đến con người “hối lộ” một cái gì đó hay không? Nếu muốn ban cho, “vị” ấy phải CÓ để ban, vị ấy phải là nguồn cung ứng thì mới có thể ban cho con người.

Lời Kinh Thánh cho ghi rằng:

Hãy xin, sẽ được; hãy tìm, sẽ gặp; hãy gõ cửa, sẽ mở cho. Bởi vì, hễ ai xin thì được; ai tìm thì gặp; ai gõ cửa thì được mở. Trong các ngươi có ai, khi con mình xin bánh, mà cho đá chăng? Hay là con mình xin cá, mà cho rắn chăng? Vậy nếu các ngươi vốn là xấu, còn biết cho con-cái mình các vật tốt thay, huống chi Cha các ngươi ở trên trời lại chẳng ban các vật tốt cho những người xin Ngài sao? (sách Ma-thi-ơ chương 7 câu 7 đến 11)

Nguồn: Techmakroti

Đối với những người đã làm cha, làm mẹ thì đều hiểu rất rõ rằng nếu con cái của mình mong muốn và xin một điều gì đó thì cha mẹ sẽ luôn cố gắng đáp ứng những điều tốt đẹp nhất cho con cái của mình. Thế nhưng mỗi chúng ta đều có những giới hạn của bản thân mình, không thể đáp ứng được mọi nhu cầu của con cái. Rất nhiều ước mơ và mong muốn của con cái nằm ngoài tầm kiểm soát của những người làm cha, làm mẹ như chúng ta. Có lẽ vì vậy mà con người ta thường đem những điều mà mình không thể tự thực hiện được để đến xin các “vị thần” có thể ban cho.

Đến đây, tôi muốn nói với bạn về một mối quan hệ thiêng liêng, sâu sắc hơn. Đó là mối quan hệ giữa chúng ta – là con, với Cha trên trời. Cha trên trời của chúng ta biết rõ mỗi nhu cầu của chúng ta, Ngài ban cho chúng ta những điều còn vượt quá cả sự cầu xin và suy nghĩ của chúng ta nữa. Ngài là Chúa Trời, là Đấng Cung ứng. Ngài là nguồn của mọi phước hạnh, nguồn của tình yêu thương, nguồn của sự thịnh vượng, nguồn bình an. Bởi Ngài mà mọi vật hiện hữu và trong Ngài chúng ta sẽ có mọi sự.

Kinh Thánh ghi rằng: Ví bằng các ngươi cứ ở trong Ta, và những lời Ta ở trong các ngươi, hãy cầu xin mọi điều mình muốn, thì sẽ được điều đó. (sách Giăng chương 15 câu 7).

Kết lại, chúng ta đã có câu trả lời cho mình. Một năm mới sắp tới, chúng ta cần tìm đến ai để cầu xin cho những nhu cầu của chúng ta? Hãy luôn nhớ rằng Cha của chúng ta ở trên trời biết rõ mọi nhu cầu của chúng ta và Ngài sẽ ban cho chúng ta vượt trội hơn cả điều chúng ta cầu xin và nghĩ đến.

Hãy tin cậy Cha!


bởi Quỳnh Mai

Nguồn gốc lễ Giáng Sinh vào Việt Nam như thế nào?

Giáng Sinh được mọi người biết đến cách rất đơn thuần là ngày Chúa Giê-xu sinh ra đời. Cứ vào thời điểm cuối năm thì nhiều nơi lại trang hoàng những hình ảnh về cây thông Nô-en nhiều màu sắc, kiểu dáng khác nhau, ông già tuyết cưỡi đàn tuần lộc,… Với những gia đình có đạo, họ vẫn thường làm chuồng chiên, bên trong có hình ảnh của những chú chiên, bà Ma-ry, ông Giô-sép và trung tâm vẫn là Chúa Giê-xu đang nằm trong máng cỏ. Những hình ảnh đó quá đỗi quen thuộc đến nỗi chúng ta cũng chẳng ai thắc mắc về nguồn gốc của lễ Giáng Sinh được bắt nguồn từ đâu, từ khi nào lễ Giáng Sinh lại có mặt ở Việt Nam và trở thành một trong những mùa lễ hội.
Ảnh bởi Chris Sowder tại unsplash

Với nhiều quốc gia ở phương Tây, Giáng Sinh là một trong những mùa lễ lớn nhất trong năm, vì hầu hết người dân đều theo đạo và Giáng Sinh là dịp để họ dâng lời cảm tạ Chúa Giê-xu đã xuống trần gian làm người. Ngày lễ Giáng Sinh được tổ chức 24/12 và 25/12, với họ dường như đây đã là ngày truyền thống và cứ đến thời điểm này hằng năm thì không khí lại rộn ràng và nô nức. Nhưng với nước Nga, thì lễ Giáng Sinh được tổ chức vào tháng 1, vì họ dùng lịch Julius mà không phải là lịch Gregorius như những quốc gia khác.

Có lẽ, trong cái nhìn của nhiều người, từ khi lớn lên ở Việt Nam, từ bao giờ lễ Giáng Sinh đã là một mùa lễ hội, một dấu hiệu phải có trước khi kết thúc một năm. Khắp nơi trang hoàng hình ảnh về cây thông, nhiều người hóa trang thành ông già Nô-ên tặng quà cho các em nhỏ trên khắp các đường phố và còn nhiều điều tương tự như thế. Những hình ảnh quá đỗi quen thuộc, nếu không muốn nói là cũ kỹ, được lặp đi lặp lại hằng năm nhưng lại không bao giờ nhàm chán. Phải chăng đó là nét đặc trưng của những dịp lễ hội lớn trong năm, không riêng gì lễ Giáng Sinh và không thể thay đổi? Nhiều người nô nức đua nhau ra ngoài đón không khí Nô-en trải dài trên khắp các tuyến đường, cùng nhau chụp những bức ảnh bên cạnh những cảnh vật trang trí vô cùng bắt mắt và rực rỡ. Nhiều chương trình giảm giá, khuyến mãi từ những cửa hàng thời trang qua các kênh mạng xã hội facebook, instagram để thu hút người tiêu dùng và họ xem đây chính là cơ hội cho việc kinh doanh để mang lại nguồn lợi nhuận tốt nhất vào dịp cuối năm. Rồi mọi thứ qua đi, không khí Nô-en chỉ còn là quá khứ và mọi cảm xúc cũng không còn nữa.

Có bao giờ bạn tự hỏi về nguồn gốc của lễ Giáng Sinh vào Việt Nam như thế nào và từ thời điểm nào chưa? Hay bạn cho rằng đó là một lễ hội mà quốc gia nào cũng có, Việt Nam cũng vậy nên cảm thấy rất bình thường, không có gì phải thắc mắc? Những hình ảnh được trang trí rất công phu ở khắp nơi, từ các khu trung tâm mại cho đến những cửa hàng thời trang,… đâu đâu cũng ngập tràn không khí Giáng Sinh. Giáng Sinh có thật sự bắt nguồn từ những điều đó? Ý nghĩa của lễ Giáng Sinh không phải như vậy.

Ảnh bởi Jillwellington tại pixabay

Thánh Kinh cho biết Chúa Giê-xu Giáng Sinh tại thành Bết-lê-hem, xứ Do Thái, thuộc khu vực Trung Đông ngày nay. Điều đó minh chứng về lễ Giáng Sinh không phải bắt nguồn từ các quốc gia phương Tây như nhiều người trong chúng ta vẫn thường nghĩ. Chúa Giê-xu Giáng Sinh là một câu chuyện có thật được ghi chép lại rất chi tiết trong Thánh Kinh, chứ không phải là một sự tích được truyền miệng. Chắc chắn rằng nhiều người trong chúng ta đều nghe về sự kiện Chúa Giê-xu Giáng Sinh, nhưng mấy ai biết sự ra đời của Chúa Giê-xu đã chia đôi dòng lịch sử của nhân loại? Bởi vì chúng ta đã bị che mắt đi bởi những chương trình khuyến mãi từ các cửa hàng thời trang, những hình ảnh trang trí vô cùng đẹp mắt trên các đường phố và thậm chí là những bận rộn về công việc cuối năm,…

Những đứa trẻ con vẫn thường nhắc đến ông già Nô-en, cây thông hay những món quà được trao nhau trong ngày lễ. Nhưng đó là những hình thức mà con người nghĩ ra để ngày lễ thêm phần thú vị và đó không phải là điều quan trọng trong ngày lễ Giáng Sinh. Nhân vật chính không phải là già Nô-en, cũng không phải là những chú tuần lộc, mà chính là Chúa Giê-xu. Vì nếu không có Chúa Giê-xu thì không có ngày Giáng Sinh, ông già Nô-en cũng không xuất hiện, đàn tuần lộc cũng chẳng còn, cây thông cũng trở nên bình thường với mọi người.

Giáng Sinh thực chất không phải là một mùa lễ hội, không bắt nguồn từ các nước phương Tây như nhiều người vẫn thường nghĩ. Những hình ảnh về ông già tuyết cưỡi đàn tuần lộc tặng quà cho các em nhỏ, cây thông Nô-en,… càng không phải là ý nghĩa thật của mùa lễ Giáng Sinh. Giáng Sinh chính là sự kiện Chúa Giê-xu được sinh ra, xuống trần gian làm người vì yêu thương nhân loại.

Chúng ta không biết chính xác được thời điểm và nguồn gốc lễ giáng sinh vào Việt Nam như thế nào và có thể điều đó đã không còn quan trọng nữa. Nhưng điều quan trọng là chúng ta có đang tận hưởng một mùa giáng sinh ý nghĩa? Đừng quên Chúa Giê-xu đã từ Trời hạ sinh xuống trần gian làm người là một sự thật không thể thay đổi và đó mới là lý do của lễ Giáng Sinh.

Bởi Nguyễn Trường

Giáng Sinh và món quà vô giá

Những cơn gió đông đã tràn về, tiết trời đã lạnh giá… vậy là một mùa Giáng Sinh nữa lại về.  Những ngày này, đâu đâu cũng lấp lánh ánh điện, trái châu lung linh sắc màu trên những cây thông nô-en. Khắp mọi nẻo đường đều nhộn nhịp không khí của mùa Giáng Sinh. Mọi người háo hức chuẩn bị những món quà đặc biệt để dành tặng cho những người thân yêu. Tùy theo đối tượng để chúng ta chọn loại quà thích hợp, có giá trị xứng đáng để trao tặng. Mỗi món quà được trao tặng đều có thể quy đổi bằng giá trị tiền bạc, vật chất. Nhưng bạn biết không, có một món quà được gọi là vô giá do Thượng Đế ban tặng cho con người cách đây 2019 năm.

Nguồn ảnh: Unsplash

Tục lệ tặng quà Giáng Sinh có lẽ đã bắt nguồn từ mùa Giáng Sinh đầu tiên, khi các nhà thông thái đi theo vì sao sáng để tìm Chúa Hài Nhi và khi gặp Ngài họ đã dâng cho Ngài những lễ vật đặc biệt. Giáng Sinh luôn luôn đi đôi với những món quà vì mùa kỷ niệm Chúa Giáng Sinh là mùa của tình thương và những món quà. Tình thương đó là tình thương lớn của Thiên Chúa đối với con người và món quà đó là Chúa Cứu Thế Giê-xu, Con của Thiên Chúa. Món quà vô giá ấy tất nhiên không thể tìm thấy ở trần gian, không thể mua được bằng tiền bạc bởi vì món quà đó đến từ thiên thượng. Chúa Giê-xu giáng sinh để đem đến cho nhân loại món quà yêu thương và Ngài cũng chính là một món quà Thiên Chúa ban tặng cho con người.

Khi nhắc đến hai chữ Giáng Sinh nghĩa là chúng ta đang nhắc đến sự kiện trọng đại trong lịch sử nhân loại. Chúa Giê-xu, Con của Đức Chúa Trời đã đến trần gian qua trinh nữ Ma-ri. Trong đêm hài nhi Giê-xu được sinh ra tại tiểu thôn Bết-lê-hem, một nhóm mục đồng nghèo khổ đang yên lặng canh giữ bầy chiên trên cánh đồng bên cạnh. Trong đêm đó, bầu trời cũng đầy sao vằng vặc, như muôn ngàn đêm khác đã trôi qua. Nhưng những gì xảy ra trong đêm đó, không những biến đổi cuộc đời của những kẻ chăn chiên này, nhưng cũng biến đổi cuộc đời của hàng tỷ tỷ người khác trên thế giới. Thế giới không còn như xưa nữa kể từ đêm Giáng Sinh ấy. Vì bỗng nhiên, ánh sáng chói lòa trên không, một thiên sứ của Thiên Chúa hiện ra và nói với những người chăn chiên. Điều này dường như không thể tin được, khiến họ vô cùng sợ hãi. “Đừng sợ, tôi đến báo cho các anh một tin mừng. Tin này sẽ đem lại niềm vui lớn cho mọi người. Đêm nay, Chúa Cứu Thế, Đấng Cứu Tinh của nhân loại đã ra đời tại thành phố của Đa-vít…” Thiên sứ báo tin rằng Giáng Sinh sẽ đem lại “niềm vui lớn cho mọi người”. Điều gì khiến Giáng Sinh trở thành niềm vui lớn cho mọi người? Bởi Chúa Giê-xu giáng sinh đã mang đến cho loài người một món quà quý giá. 

Món quà Giáng Sinh của Thượng Đế có ba đặc tính thật độc đáo mà không một món quà nào khác trên thế gian có được như vậy. Đây là món quà đắt giá nhất mà bạn và tôi có thể nhận được. Phải, đây là món quà vô giá vì chính Con Trời đã phải hy sinh chính mạng sống mình để ban tặng món quà này đến cho nhân loại. Đây là món quà duy nhất có giá trị đến vĩnh viễn, là món quà duy nhất có giá trị cho đến đời đời. Đây là món quà hữu dụng nhất, vì chúng ta có thể sử dụng món quà này mỗi ngày trong suốt cả quãng đời còn lại.

Ngài vui lòng lìa thiên đàng cao sang để xuống trần làm người là bởi tình yêu thương con người đang hư mất trong tội lỗi. Chúa Giê-xu xuống trần gian để cứu con người chúng ta ra khỏi tội lỗi và đó là ý nghĩa của hai chữ Giáng Sinh. Thiên Chúa sinh ra làm người, chịu chết để cứu người và để ban cho con người sự sống vĩnh cửu. Ngài giáng thế để ban cho con người sự tha thứ về quá khứ tội lỗi, sự đổi mới đời sống ở hiện tại, và sự sống đời đời ở tương lai.

Món quà đến từ thiên đàng chắc chắn là món quà đặc biệt nhất trong tất cả những món quà. Bởi món quà ấy được tặng cho tất cả mọi người không phân biệt màu da, chủng tộc, không phân biệt sang hèn. Chỉ cần ai bằng lòng đón nhận thì món quà sẽ thuộc về người đó. Tuyệt vời thay đã có hàng tỷ người trên thế giới này đã nhận món quà ấy và khám phá được những điều kì diệu. Bởi khi tiếp nhận món quà cũng có nghĩa là chúng ta tiếp nhận Chúa Cứu Thế và mời Ngài ngự vào cuộc đời mình, chúng ta sẽ kinh nghiệm được niềm vui và bình an tuyệt vời, là điều không món quà nào trên đời này, cũng không một người nào trên đời này có thể đem đến cho chúng ta. Chúa Giê-xu – món quà đến từ thiên đàng sẽ mang đến cho nhân loại những điều kì diệu đến từ  thiên đàng.

“Ngày xưa còn thơ tôi thầm mơ đến đêm giáng sinh
Hạnh phúc với những món quà bé xinh, dễ thương
Nào ngờ đâu chính đêm đông này một hài nhi sinh ra cho trần thế
Ðó mới chính là món quà yêu thương…”

Chúa Trời là một Người Cha

Tại sao Chúa Trời được gọi là Cha? Chúa là Người Cha như thế nào? Ngài đối xử với chúng ta theo cách của một Người Cha ra sao? Chúng ta học được gì từ khía cạnh quan trọng này của Ngài?

Ảnh bởi Mohamed Awwam trên Unsplash

Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa toàn năng nắm mọi quyền cai trị và đáng được tôn kính, nhưng Ngài cũng mô tả chính mình Ngài là một Người Cha. Danh xưng ấy cho chúng ta có cái nhìn rõ ràng và hiểu biết sâu sắc về bản tính và kế hoạch của Chúa.

“Cha” mang nhiều ý nghĩa

Từ “cha” được sử dụng để mô tả một người đã tạo ra, khởi nguồn hoặc sáng lập một thứ gì đó. Chẳng hạn, James Naismith được gọi là “cha đẻ” của môn bóng rổ vì ông đã tạo ra môn thể thao này hơn 100 năm trước.

Mỗi chúng ta đều có một người cha thể xác mang đến cho mình sự sống của thể chất, vì vậy theo phong tục, trong hầu hết các nền văn hóa con cái đều mang họ của cha, và gọi người đó là “cha” hoặc “bố”.

Tuy nhiên, việc làm cha không hẳn lúc nào cũng thể hiện ra những điều tốt đẹp. Chúa Giê-xu có nói với những người đạo đức giả trong thời của Ngài: “Các ngươi bởi cha mình, là ma quỷ, mà sanh ra” (sách Giăng, chương 8 câu 44). Chúa không có ý nói rằng satan đã cho họ sự sống thể xác, nhưng họ đang theo gương satan về sự gian ác tâm linh. Satan là cha đẻ của sự dối trá và giết người, xúi giục người khác làm điều tương tự.

Ngược lại, Đức Chúa Cha là nguồn cội, là cha của lẽ thật và tình yêu thương (sách Giăng, chương 17 câu 17 và sách Giăng thứ Nhất, chương 4 câu 16).

Chúa Trời là Cha qua công trình sáng tạo

“Vì vậy mà tôi quỳ gối trước mặt Cha, bởi Cha mà cả nhà trên trời và dưới đất đều được đặt tên”. (sách Ê-phê-sô, chương 3 câu 14-15). Câu này cho thấy đại gia đình của Đức Chúa Trời ở cả trên trời và dưới đất. Thông qua công trình sáng tạo, Chúa là Cha của các thiên sứ (sách Gióp, chương 1 câu 6; chương 38 câu 7) và của loài người (sách Ma-la-chi, chương 2 câu 10; sách Lu-ca, chương 3 câu 38). Chúa Trời Toàn Năng có trách nhiệm trên mọi sinh vật tồn tại; vì vậy, Ngài chính xác là Cha của tất cả những ai có sự sống (sách Ti-mô-thê thứ Nhất, câu 6 câu 13). Vì thế, thật tự nhiên khi Kinh Thánh tỏ bày rằng Chúa đầu của một đại gia đình.

Chúa Giê-xu: Con Độc Sinh của Đức Chúa Trời

Đức Chúa Giê-xu là Con của Đức Chúa Trời, theo cách độc đáo và đặc biệt. Ngài là “Con của Đức Chúa Trời cao nhất” (sách Mác chương 5 câu 7). Sách Thi Thiên, chương 2 câu 7 ghi nhận: “Chúa phán cùng ta rằng: Ngươi là Con Ta, ngày nay Ta đã Sanh Con”. Chúa Giê-xu đã nhiều lần gọi Đức Chúa Trời là Cha. Sách Giăng, chương 3 câu 16 viết rằng “Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một của Ngài”.

A-đam và Ê-va được Chúa tạo dựng nên từ bụi đất và ban cho họ sự sống, nhưng họ không có mẹ, họ cũng không được thụ thai. Chúa Giê-xu là người duy nhất được sinh ra bởi một trinh nữ bởi “Thần Linh của Đức Chúa Trời và quyền phép Đấng Rất Cao sẽ che phủ Ma-ri dưới bóng mình”, dẫn đến việc thụ thai (sách Lu-ca, chương 1 câu 35). Chúa Giê-xu là Con Một của Đức Chúa Trời theo nghĩa đen. Bất kỳ ai cũng có một người cha phần xác. Thế nên, Đức Chúa Trời là Cha của Chúa Giê-xu, theo cách độc nhất mà Ngài không dành cho bất cứ tạo vật sống động nào khác.

Ảnh bởi Melindar Macaroni trên Pixabay

Cha tinh thần của chúng ta

Thông điệp sống còn mà Chúa Giê-xu mang đến cho chúng ta thấy vai trò người Cha và Chúa trong cuộc sống chúng ta. Dù tất cả chúng ta đều có sự sống thể xác khi bước vào thế giới này, nhưng Chúa có kế hoạch cho cả loài người, có cơ hội trải nghiệm khi tâm linh được làm mới, mang đến sự sống vĩnh viễn trong Vương quốc Chúa.

Thông điệp này cho thấy qua sự ăn năn và tiếp nhận Thần Linh Chúa vào lòng (sách Công vụ, chương 2 câu 38), Đức Chúa Trời Toàn Năng sẽ thật sự trở thành Cha chúng ta theo cách rất riêng. Ngài trở thành Cha chúng ta, và chúng ta trở nên con cái Ngài, khi chúng ta có tâm linh mình được làm mới lại. Sách Rô-ma, chương 8 câu 14 cho biết: “Vì hết thảy ai được Thần Linh của Đức Chúa Trời dắt dẫn, đều là con của Đức Chúa Trời”.

Sách Rô-ma, chương 8 câu 9 “Nếu thật Thần Linh của Đức Chúa Trời ở trong anh em, thì anh em không sống theo xác thịt, nhưng theo Thần Linh”. Tất nhiên, chúng ta vẫn là con người xác thịt, nhưng Kinh Thánh nói điều này từ góc nhìn của Đức Chúa Trời. Chúng ta bắt đầu đời sống thiêng liêng khi còn là trẻ thơ (sách Phi-e-rơ thứ Nhất, chương 2 câu 2), nhưng phải trưởng thành và cho đến khi qua đời hoặc đến khi Chúa Giê-xu trở lại (sách Tê-sa-lô-ni-ca thứ Nhất, chương 4 câu 15 đến 17).

Qua cuộc sống mới với Thần Linh Chúa sống trong lòng, chúng ta không chỉ hiểu biết chân lý và giá trị tâm linh, mà còn có mối quan hệ rất cá nhân, gần gũi với Đức Chúa Cha của chúng ta. Giờ đây, chúng ta có thể gọi Ngài là Cha!” (sách Rô-ma chương 8 câu 15).

Mối quan hệ cá nhân

Từ “cha” trong Kinh Thánh, ngụ ý sự quen thuộc và thân mật vô cùng. Từ điển Kinh Thánh ghi rằng đó là “một từ ngữ thể hiện tình cảm nồng hậu và sự tin cậy cung kính”.

Qua Kinh Thánh, Chúa cho thấy chúng ta có thể có được mối quan hệ cá nhân ấm áp, thân mật với Ngài, vượt xa việc chỉ đơn thuần thừa nhận Ngài là Đấng tạo ra chúng ta và đặt ra những quy tắc đúng đắn giúp cuộc sống chúng ta hạnh phúc và trọn vẹn. Chúng ta là con cái trong mắt Ngài, và được tận hưởng mối quan hệ đặc biệt cùng tình yêu thương chỉ có giữa cha và con. Chúng ta không chỉ là đầy tớ có chủ nhân, mà còn là con trai, con gái có Cha.

Điều này đưa chúng ta trở lại chương đầu của sách Sáng Thế, ghi lại mong muốn của Đức Chúa Trời làm nên loài người như hình và theo tượng Ngài” (câu 26). Cơ Đốc nhân “được dự phần trong bản tánh của Đức Chúa Trời”

Cha yêu thương

Chúa từng bày tỏ chính Ngài cho loài người với vai trò người Cha trong nhiều bối cảnh. Quan trọng nhất là Cha tâm linh. Vì vậy, Cơ Đốc nhân kinh nghiệm Đức Chúa Trời thể hiện mọi phẩm chất của một Người Cha yêu thương. Ngài ban cho chúng ta sự sống; Ngài yêu thương chúng ta; Ngài ban thưởng cho những nỗ lực của chúng ta; Ngài giao tiếp với chúng ta qua Lời Ngài; Ngài sửa phạt chúng ta cách yêu thương; và quan trọng nhất, Ngài sẽ ban cho chúng ta món quà cuối cùng: sự sống vĩnh viễn trong Vương quốc Ngài bởi ân điển Ngài (sách Rô-ma, chương 6 câu 23; sách Ê-phê-sô, chương 2 chương 5), nếu chúng ta ăn năn tội lỗi mình và vâng theo mệnh lệnh Ngài (sách Công vụ, chương 2 câu 38).

Nếu bạn chưa kinh nghiệm về Chúa như một người Cha thật sự, chu đáo, yêu thương, thì bạn vẫn chưa bắt đầu sống cho mục đích mà Chúa đã tạo ra bạn trên cuộc đời này.


Nguồn: lifehopeandtruth.com
Hồng Nhạn
dịch

Lễ tạ ơn là gì?

Có lẽ từ trước đến nay, trong chúng ta đã không ít lần được nghe về ngày lễ này. Chúng ta có lẽ có nhiều khái niệm khác nhau về ý nghĩa của ngày lễ này. Để hiểu rõ ý nghĩa của ngày lễ, chúng ta cần bắt đầu với nguồn gốc hình thành của nó.
Ảnh bởi Alison Marras trên Unsplash

Lễ Tạ Ơn (Thanksgiving) là một ngày lễ tổ chức tại khu vực Bắc Mỹ, thường được coi là dịp để bày tỏ lòng biết ơn. Lễ Tạ Ơn được tổ chức hàng năm chủ yếu tại Hoa Kỳ, Canada một số đảo ở Caribe và Liberia. Ngày lễ này có ý nghĩa lúc đầu là mừng việc thu hoạch được mùa và tạ ơn Chúa Trời đã cho con người được sống no đủ và an lành. Đây cũng là ngày nghỉ lễ chính thức, cho tất cả người lao động theo luật định tại Mỹ khi George Washington, vị tổng thống đầu tiên của Mỹ đã tuyên bố ngày Lễ Tạ Ơn trở thành một ngày lễ chính thức của Mỹ vào năm 1789.

Lễ Tạ Ơn thường được tổ chức với gia đình và bạn bè gặp gỡ, cùng chia sẻ niềm vui, và nhất là một bữa tiệc buổi tối, gia đình sum họp ăn uống vui vẻ. Đây là một ngày quan trọng cho đời sống gia đình, nên dù ở xa, con cháu thường về với gia đình. Lễ Tạ Ơn là một ngày truyền thống dành cho gia đình bạn bè sum họp bên nhau cho một bữa ăn đặc biệt. Bữa ăn đặc biệt này thường bao gồm gà tây, khoai tây, nước sốt việt quất, bánh bí ngô, rau xanh…

Có lẽ từ trước đến nay, trong chúng ta đã có không ít lần được nghe về ngày lễ này. Nếu chúng ta không hiểu về nguồn gốc xuất hiện của Lễ Tạ Ơn thì chắc rằng trong số chúng ta sẽ có khái niệm khác nhau về ý nghĩa của ngày lễ này. Nhưng để hiểu rõ ý nghĩa của ngày lễ, chúng ta cần bắt đầu với nguồn gốc hình thành của nó.

Nguồn gốc: Lễ Tạ Ơn bắt đầu như thế nào?

Vào khoảng năm 1621, sau phong trào cải cách giáo hội của Martin Luther tại Châu Âu, một số Cơ đốc nhân (những người tin vào Chúa Giê-xu) đã bị Vua của nước Anh buộc phải cải đạo theo Tôn giáo của Vua. Nhưng những người này đã quyết tâm giữ vững niềm tin, sau một thời gian bị bỏ tù thì cuối cùng họ bị buộc phải rời khỏi đất nước Anh. Vì vậy, họ đành phải lìa bỏ quê hương mình, cùng với gia đình đi tìm nơi sinh sống. Họ đã phải mạo hiểm đi bằng thuyền từ Châu Âu đến Hoa Kỳ. Cuối cùng thì họ tới được Plymouth vào một mùa đông rất khắc nghiệt. Một nửa số người trong số họ đã không qua nổi mùa đông khắc nghiệt này.

Khi đó, vì là Cơ Đốc nhân nên những người này đã kêu cầu với Đức Chúa Trời và Ngài đã dạy họ hãy kết bạn với người dân địa phương. Họ đã vâng lời Chúa dạy và đã được người dân da đỏ giúp đỡ. Những người dân da đỏ đã dạy họ cách sinh tồn tại vùng đất này bằng việc trồng trọt, săn bắt…. Năm đó họ trúng mùa, thêm vào đó có sự xuất hiện của những chú gà tây rừng giúp cho họ được đầy đủ thức ăn.

Và với sự cảm động sâu xa về sự ban cho của Đức Chúa Trời, họ đã cùng nhau họp lại để cảm tạ Ngài và từ đó Lễ Tạ Ơn được hình thành.

Nguồn: tuoitre.vn

Ý nghĩa thực sự của ngày Lễ Tạ Ơn là gì?

Bắt nguồn từ sự hình thành của Lễ Tạ Ơn, ngày này được những người Anh Quốc di cư sang Hoa Kỳ tổ chức để cảm tạ Đức Chúa Trời vì những điều Ngài đã ban cho họ. Lễ Tạ Ơn được coi là dịp để bày tỏ lòng biết ơn nhau và nhất là tạ ơn Chúa đã ban cho vụ mùa màng được sinh hoa kết trái, lương thực dồi dào và dùng đủ, và tất cả các ơn lành khác ta nhận được trong cuộc sống. Như vậy, cho đến ngày nay việc tổ chức Lễ Tạ Ơn với sự cảm tạ về phước hạnh từ Chúa ban đã được lan truyền ra khắp nơi trên thế giới. Người Việt chúng ta tới ngày này, cũng hãy biết ơn “Ông Trời”, Đấng đáp ứng những nhu cầu chúng ta, như trong câu ca dao từ xưa “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”.

Tỏ lòng biết ơn là một hành vi đạo đức cao quý. Tâm tình tạ ơn không chỉ có trong những lúc chúng ta nhận được các điều tốt lành, những phước hạnh, nhưng cả trong những khi gặp khó khăn thử thách. Trong Lễ Tạ Ơn năm nay, dù cho chúng ta đang sống trong hoàn cảnh nào, hãy tạ ơn tình yêu, sự tốt lành mà Ông Trời đã dành cho chúng ta.


bởi Quỳnh Mai

Mã thông tin của Thượng Đế

DNA trong các sinh vật sống là bằng chứng sống động cho thấy có một Đấng Tạo Hóa. Nó mang những thông tin không thể đến từ các nguồn lực tự nhiên, nhưng từ một Đấng Chí Tôn thông thái.
Ảnh từ lifehopeandtruth.com

Trên thế giới, nhiều người không tin rằng Chúa tồn tại, tự xưng mình là người vô thần. Những người khác tin rằng có Chúa, nhưng họ chưa chứng minh được sự tồn tại của Ngài. Còn những người theo thuyết bất khả tri thì không chắc liệu Chúa có tồn tại hay không. Chúa nói về những người không tin Ngài tồn tại: “Bởi những sự trọn lành của Ngài mắt không thấy được, tức là quyền phép đời đời và bổn tánh Ngài, thì từ buổi sáng thế vẫn sờ sờ như mắt xem thấy, khi người ta xem xét công việc của Ngài. Cho nên họ không thể chữa mình được” (Rô-ma 1:20).

Câu Kinh Thánh này áp dụng cho cả loài người. Từ ban đầu, con người có thể thấy những thứ được Chúa tạo ra, sự phức tạp và trật tự đáng kinh ngạc của công trình sáng tạo. Nhưng trong hàng ngàn năm, loài người vẫn chưa nhận thức được một phần tuyệt vời của sự sáng tạo, ẩn giấu trong từng tế bào của mọi sinh vật sống: DNA.

Năm 1953, James Watson và Francis Crick trở thành những nhà khoa học đầu tiên xây dựng mô tả chính xác về cấu trúc xoắn kép của DNA.

Kể từ khi được phát hiện, DNA trở thành một lĩnh vực nghiên cứu hấp dẫn. Các nhà khoa học bắt đầu sắp xếp trình tự bộ gen người vào năm 1990, và một dự thảo đã được hoàn thành vào năm 2000. Vào ngày 26 tháng 6 năm 2000, Tổng thống Bill Clinton đã tuyên dương những người hoàn thành trình tự bộ gen người, và thừa nhận DNA là sáng tạo của Chúa. Ông nói: “Ngày hôm nay, chúng ta được hiểu về loại ngôn ngữ mà Chúa đã sử dụng để sáng tạo nên Sự sống. Hơn bao giờ hết, chúng ta nghiêng mình trước sự phức tạp, trước vẻ đẹp và sự diệu kỳ của món quà thần thánh nhất, thiêng liêng nhất của Ngài”.

Tiến sĩ Francis Collins, lãnh đạo Dự án bản đồ gen người đã theo tổng thống bước lên khán đài và tuyên bố: “Riêng với tôi, thật tuyệt vời và đáng kinh ngạc khi biết rằng lần đầu tiên chúng ta đọc được cuốn sách chỉ dẫn về chính bản thân mình, cuốn sách mà trước đó duy chỉ có Chúa biết đến”.

Điều đáng kinh ngạc là trong không gian cực nhỏ bé của mỗi tế bào trong cơ thể bạn, mã này dài đến 3 tỷ chữ cái!

Nhưng DNA là gì? Nếu nó thực sự là sáng tạo của một Nhà thiết kế thông minh và toàn năng, nó sẽ hoàn toàn chính xác, được mã hóa tối ưu và là phương pháp lưu trữ hiệu quả. Chúng ta sẽ giải quyết tất cả các khía cạnh này và thảo luận để hiểu được vì sao phân tử đáng kinh ngạc này phải có trong cuộc sống chúng ta.

DNA là gì?

DNA là tên viết tắt của axit deoxyribonucleic. DNA được tạo thành từ bốn hóa chất: adenine, guanine, cytosine và thymine, được biểu thị bằng các chữ cái A, G, C và T. Sự sắp xếp của bốn bazơ (nucleotide) này đóng vai trò là công thức cho các tế bào phiên mã, và sử dụng trong việc tạo ra protein từ axit amin. Các protein này sau đó được sử dụng cho các chức năng tế bào, tất cả mọi thứ từ việc mọc tóc đến biến thức ăn thành năng lượng.

Khi Bill Gates học sinh học ở trường trung học, ông thấy nó thật nhàm chán. Tuy nhiên, trong cuốn sách The Road Ahead/Con đường phía trước, ông giải thích một khái niệm đã thay đổi hoàn toàn suy nghĩ của mình: “Tôi bước vào tuổi đôi mươi, tin rằng hóa học thú vị hơn nhiều so với sinh học. Sau đó tôi đọc Molecular Biology of the Gene/Phân tử Sinh học của Gen của James D. Watson – cuốn sách tuyệt vời khiến tôi nhận ra trải nghiệm thời trung học đã đánh lừa tôi. Sinh học, sự hiểu biết về cuộc sống bây giờ đối với tôi thú vị hơn nhiều so với hóa học. Sinh học là thông tin quan trọng nhất chúng ta có thể khám phá, bởi vì trong nhiều thập kỷ tới nó sẽ cách mạng hóa y học và mang đến phương pháp điều trị cho hầu hết các loại bệnh. DNA của con người giống như một chương trình máy tính, nhưng tiên tiến hơn nhiều so với bất kỳ phần mềm nào chúng tôi từng tạo ra” (1996, trang 227-228).

DNA có thể nhầm lẫn không?

DNA phải tự tái tạo mỗi khi một tế bào phân chia, vì vậy điều quan trọng là mã vẫn giữ nguyên trong mọi tế bào sinh vật. Độ chính xác của sự tái tạo này rất đáng kinh ngạc, từ các sinh vật đơn bào đơn giản nhất đến các sinh vật đa bào phức tạp nhất.

Hãy nhìn vào cả hai đầu quang phổ: vi khuẩn E. coli (prokaryote, tế bào không nhân, DNA lỏng lẻo bên trong tế bào) và con người (eukaryote, với các tế bào có nhân để chứa DNA).

“Phân tử DNA đơn là bộ gen của E. coli chứa 4,7 x 106 cặp nucleotide. Sự sao chép DNA bắt đầu tại một vị trí đơn, cố định trong phân tử này – điểm khởi đầu sao chép, tiến hành ở khoảng 1000 nucleotide mỗi giây, do đó được thực hiện trong không quá 40 phút. Nhờ vào độ chính xác của quy trình (bao gồm chức năng “đọc sửa bản sao’), chỉ có khoảng một nucleotide không chính xác trong mỗi 109 nucleotide được sao chép. Nói cách khác, bộ gen của E. coli (4,7 x 106)  được sao chép mà hầu như không mắc lỗi!

“Trung bình nhiễm sắc thể của con người chứa 150 x 106 cặp nucleotide được sao chép khoảng 50 cặp mỗi giây. Quá trình này sẽ mất một tháng, nhưng thực tế là có nhiều vị trí trên nhiễm sắc thể eukaryotic có thể bắt đầu quá trình sao chép… Khi quá trình gần hoàn thành, ‘bong bóng’ DNA vừa được sao chép sẽ gặp nhau và cuối cùng tạo thành hai phân tử mới (G. Tripathi, Cellular and Biochemical Science/Khoa học tế bào và sinh hóa, trang 353).

DNA có được mã hóa tối ưu không?

Hai mươi axit amin khác nhau tạo nên protein trong cơ thể con người, do đó, bốn ba-zơ (chữ cái) bằng cách nào đó phải mã hóa cho mỗi một axit amin. Theo quan điểm kỹ thuật, DNA có được mã hóa tối ưu không? Bốn chữ cái tạo thành bảng chữ cái và bộ ba chữ cái tạo thành từ ngữ (cô-đon).

Theo nhà khoa học và tác giả Werner Gitt, có bốn yêu cầu cho mã hiệu quả nhất:

  • Mã phải sử dụng ít vật liệu nhất để mã hoá cho ít nhất 20 axit amin.
  • Khi số lượng ký tự trong bảng chữ cái tăng lên, độ phức tạp của bộ máy thực hiện cũng tăng lên. Điều này đòi hỏi nhiều tài liệu hơn và dẫn đến nhiều lỗi hơn trong quá trình sao chép, phiên mã và dịch mã.
  • Do hệ thống sao chép DNA (theo đó chuỗi xoắn kép được “giải nén” và mỗi chuỗi đơn nhận được các chữ cái bổ sung), số lượng chữ cái trong bảng chữ cái phải là số chẵn.
  • Để giảm lỗi trong nhiều quá trình sao chép, cần có phương án dự phòng chặt chẽ.

Tiến sĩ Gitt kết luận: “Từ quan điểm kỹ thuật, và theo các tiêu chí đã được xem xét ở đây, hệ thống mã được sử dụng trong các sinh vật sống để tổng hợp protein – bộ ba mã di truyền là tốt nhất trong tất cả các mã, đáp ứng bốn yêu cầu nhất định phải gặp. Điều này chứng tỏ thiết kế này là có chủ đích” (Without Excuse, 2011, trang 211).

DNA lưu trữ dữ liệu hiệu quả như thế nào?

Vì DNA sử dụng ít vật liệu nhất để mã hóa 20 axit amin, nên nó rất hiệu quả theo quan điểm lưu trữ dữ liệu. Tiến sĩ Gitt đưa ra các ví dụ để minh họa hiệu quả này:

  • DNA với kích thước chỉ bằng đầu đinh ghim sẽ chứa nhiều thông tin như 25 nghìn tỷ cuốn sách bìa mềm 189 trang. Số lượng sách như vậy sẽ cao gấp 920 lần khoảng cách từ trái đất đến mặt trăng.
  • Nếu bạn kéo dài một miligam của một chuỗi xoắn kép vật liệu DNA, bạn sẽ phải kéo dài từ trái đất đến mặt trăng (Without Excuse, trang 288).

Thực tế, khả năng lưu trữ tuyệt vời của DNA đã khiến một số nhà khoa học cố gắng khai thác nó để lưu trữ dữ liệu! ExtremeTech báo cáo rằng “một nhà nghiên cứu sinh học và di truyền học tại Viện Harvard Wyss đã lưu trữ thành công 5,5 Petabits dữ liệu, khoảng 700 terabyte trong một gram DNA”.

Ý nghĩa cho sự tiến hóa

Tiến sĩ Gitt, cựu giáo sư hệ thống thông tin giải thích: “Lỗ hổng cơ bản của tất cả các quan điểm tiến hóa là nguồn gốc thông tin trong các sinh vật sống. Chưa ai chứng minh được rằng một hệ thống mã hóa và thông tin có thể tự hình thành [thông qua vật chất]. Các định lý thông tin dự đoán rằng điều này không bao giờ có thể. Do đó, giả thuyết rằng sự sống có nguồn gốc vật chất thuần túy đã bị loại trừ (In the Beginning Was Information, 2005, trang 123).

Theo nghĩa đen, không thể nào nói rằng: DNA với tất cả sự phức tạp, chính xác và cần thiết cho sự sống chỉ là sự tiến hóa. Chẳng khác nào nói rằng Thuyết tiến hoá của Darwin đã ra đời mà không có một tác giả hay khái niệm ngôn ngữ có sẵn nào!

Một số nhà khoa học trước đây ủng hộ thuyết tiến hóa đã đảo ngược quan điểm của họ vì những khám phá về thông tin tìm thấy trong DNA.

Dean Kenyon, giáo sư sinh học đã bác bỏ cuốn sách của ông về thuyết tiến hóa của Darwin: “Lĩnh vực di truyền phân tử mới này là bằng chứng thuyết phục nhất rằng Trái đất đã được thiết kế rõ ràng ( trích dẫn bởi Lee Strobel trong The Case for a Creator, 2004, trang 221).

Người vô thần nổi tiếng nhất thế giới, Giáo sư Antony Flew thừa nhận ông không thể giải thích làm sao DNA có thể được tạo ra và phát triển thông qua quá trình tiến hóa, nên đã chấp nhận rằng cần phải có một trí thông minh siêu phàm để tạo ra mã DNA.

“Sau nhiều thập kỷ niềm tin khăng khăng là một sai lầm, ở tuổi 81 Antony Flew đã kết luận rằng trí thông minh đã tạo ra vũ trụ. Một trí thông minh siêu nhiên là lời giải thích duy nhất cho nguồn gốc của sự sống và sự phức tạp của thế giới tự nhiên”, Flew nói trong cuộc phỏng vấn qua điện thoại từ Anh.

“Nghiên cứu về DNA của các nhà sinh vật học cho thấy, bởi sự sắp xếp cần thiết để tạo ra sự sống với mức độ phức tạp gần như không thể tin được, chắc chắn phải có trí thông minh tham gia”, Flew nói trong video mới, “Liệu khoa học đã phát hiện ra Chúa chưa?” (Richard Ostling, “Người vô thần hàng đầu bây giờ đã tin Chúa”, ngày 9 tháng 12 năm 2004).

Điều này có ý nghĩa gì với bạn?

Việc phát hiện ra DNA năm 1953 cho thấy thông tin dạng mã cần thiết cho cuộc sống như thế nào. Nhưng thông tin phức tạp như vậy không thể bắt nguồn từ những vật liệu đơn giản rơi vào đúng vị trí; nó buộc phải đến từ một Đấng Tạo Hóa thông minh siêu việt.

Quá trình sao chép DNA cho thấy cách thông tin này được truyền đi mà hầu như không có lỗi, sử dụng mã được thiết kế tối ưu để tạo nên các protein cần thiết cho sự sống.

Hôm nay, với những tiến bộ công nghệ, có thể thấy một vài khía cạnh nhỏ nhất trong công trình sáng tạo vĩ đại của Chúa, cung cấp thêm bằng chứng về “quyền phép đời đời và bổn tánh Ngài” (Rô-ma 1:20).

Bạn có sẵn sàng đón nhận bằng chứng rằng Chúa có tồn tại qua công trình sáng tạo vĩ đại của Ngài không? Bạn sẽ chứng minh cho bản thân mình thấy rằng Ngài tồn tại? Và nếu Chúa có thật, liệu bạn có muốn tin và vâng phục Ngài không?

Nguồn: https://lifehopeandtruth.com
Hồng Nhạn dịch

Mục đích cuộc sống (Phần 1)

Tại sao bạn lại được sinh ra? Tất cả chúng ta đều hy vọng mình sẽ sống một cuộc đời ý nghĩa, nhưng hầu hết vẫn đang mải mê tìm kiếm mục đích cuộc sống. Nhưng Thượng Đế có ý định gì cho cuộc đời chúng ta?
Tại sao bạn được sinh ra? Mục đích cuộc sống là gì?

Nhiều người trong chúng ta quá bận rộn với sự nghiệp, việc nhà và các hoạt động giải trí đến nỗi không có thời gian để suy nghĩ sâu sắc về ý nghĩa cuộc sống.

Nhưng đôi khi, đâu đó trong tâm trí chúng ta có một cảm giác bứt rứt, rằng cuộc sống không thể nào chỉ có bấy nhiêu. Cuộc sống chắc chắn phải mang một mục đích, để chúng ta theo đuổi và hoàn thành.

Những suy nghĩ như vậy thường xuất hiện trong những giai đoạn chuyển tiếp đầy cảm xúc của cuộc đời: khi chúng ta xa nhà, nhận công việc đầu tiên, kết hôn, sinh con, có một tổ ấm hoặc nghỉ hưu…

Câu hỏi về mục đích cuộc sống cũng đến khi chúng ta mất đi một người thân yêu. Việc đó nhắc nhở rằng một ngày nào đó, chính chúng ta cũng sẽ chết, thôi thúc chúng ta tìm kiếm ý nghĩa sâu sắc hơn của cuộc đời.

Đó là câu hỏi mang tính triết học; nhưng đồng thời, nó cũng là thực tế quan trọng. Biết mục đích của cuộc đời mình, chúng ta cũng sẽ có định hướng đúng đắn. Một cuộc đời có mục đích là một cuộc đời đầy sức sống, phấn khích, và cuối cùng là thành công.

Vậy mục đích của cuộc đời bạn là gì?

Một trải nghiệm lớn

Có phải mục đích cuộc sống là theo đuổi hạnh phúc bằng hài kịch, âm nhạc và các hoạt động giải trí khác? Bằng các chất kích thích tâm trạng? Hay bằng tận hưởng các món ăn ngon và các đặc quyền của người giàu có, nổi tiếng?

Hay bởi các dự án xây dựng đồ sộ, những thành tựu vĩ đại sẽ tạo ra dấu ấn để đời và được ghi nhớ trong tương lai?

Nhiều người đã nỗ lực theo đuổi những điều như vậy để tìm kiếm mục đích thực sự của cuộc sống. Có một người rất giàu có, đã từng trải nghiệm tất cả mọi thứ, nhưng vẫn đi đến một kết luận khó hiểu:

“Tôi chẳng từ điều gì mắt mình ước ao, cũng chẳng cấm điều gì lòng mình ham thích; vì lòng tôi vui vẻ trong mọi công lao của tôi; và đó là phần thưởng tôi đã được trong mọi công lao tôi. Rồi tôi xem xét các công việc tay mình đã làm, và sự lao khổ mình đã chịu để làm nó; kìa, mọi điều đó là sự hư không và theo luồng gió thổi, chẳng có ích lợi gì hết dưới mặt trời”

Chúa Trời đã ban cho vua Sa-lô-môn sự giàu có và trí tuệ tuyệt vời. Những trải nghiệm nhằm tìm kiếm mục đích sống của ông không phải là nửa vời! Dù ông đôi chút hài lòng với những thứ mình đã nỗ lực thực hiện. Nhưng ông cũng như chúng ta, trong những khoảnh khắc suy tư yên tĩnh vẫn tự hỏi: Liệu đây đã là tất cả? Chẳng lẽ tôi được sinh ra chỉ vì những thứ vật chất và tạm thời này? Tất cả đều chỉ là thoáng qua và tạm bợ – như cố gắng bắt lấy ngọn gió vậy.

Nếu tất cả tiền bạc trên thế giới này có thể mua cho chúng ta ý nghĩa và mục đích cuộc sống, thì sự cùng quẫn sẽ dạy chúng ta điều gì?

Ảnh bởi Thanti Nguyen trên Unsplash

Cái nhìn từ đáy vực thẳm

Nghĩ đến giây phút cùng quẫn của 39 con người Việt trong chiếc container của xe tải, chúng ta không ít người sẽ tự hỏi: trong giây phút dưới đáy vực thẳm của linh hồn mình trước cái chết, mỗi người họ nghĩ đến điều gì? Dưới đáy vực thẳm đó vọng lên tiếng kêu của khát vọng sống. Hẳn nó là nỗi ám ảnh cho ít nhiều người trong chúng ta dòng tin nhắn của Trà My Con xin lỗi bố mẹ nhiều! Con đường đi nước ngoài không thành.

Sự cứu rỗi con người được thực hiện thông qua tình yêu và trong tình yêu

Viktor E. Frankl đã trải qua những khốn khổ sâu sắc của con người trong trại tập trung Auschwitz, của Phát-xít Đức, trong Thế Chiến II. Ngay sau chiến tranh, ông đã viết Man’s Search for Meaning/ (tạm dịch Đi tìm ý nghĩa cuộc sống), mô tả những điều kiện sống khốn khổ và mất nhân tính mà các tù nhân đã phải trải qua.

Ngay cả trong cuộc diễu hành lúc rạng sáng lạnh tê người, hứng chịu những cú đánh tàn bạo, tâm trí ông vẫn tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống qua những suy nghĩ sống động về vợ mình:

“Một ý nghĩ lướt qua tâm trí tôi: lần đầu tiên trong đời tôi nhìn thấy lẽ thật, điều đã được rất nhiều nhà thơ phổ thành lời hát, điều được rất nhiều nhà tư tưởng tuyên bố là sự khôn ngoan cuối cùng. Lẽ thật ấy: tình yêu là mục đích tối thượng và cao cả nhất mà con người có thể khao khát. Sau đó, tôi hiểu được ý nghĩa của bí mật lớn nhất mà thơ ca, tư tưởng và niềm tin của con người cần phải truyền đạt: Sự cứu rỗi con người được thực hiện thông qua tình yêu và trong tình yêu. Tôi hiểu được làm sao mà một người không còn gì trong thế gian này vẫn có thể hạnh phúc, dù chỉ trong một khoảnh khắc ngắn ngủi, khi suy ngẫm về người mình yêu. Ở một hoàn cảnh tột cùng khó khăn, không có cách nào để người ta hành động tích cực, khi điều duy nhất chúng ta có thể làm là chịu đựng đau khổ; thì thông qua việc chiêm ngưỡng hình ảnh người mình yêu trong tâm trí, chúng ta sẽ đạt được sự trọn vẹn.”

Thật là một suy nghĩ tốt đẹp, dù bi thảm. Vợ của Viktor Frankl đã chết trong trại tập trung, và ông không bao giờ có cơ hội gặp lại bà.

Con người với nỗi khắc khoải, ráng sức dò tìm mục đích và ý nghĩa của cuộc sống. Nhưng nó không nằm trong khả năng đơn độc của con người để có thể nhận biết mục đích đó và làm đầy thỏa ý nghĩa cuộc sống mình, nếu không phải trong sự nhận biết Đấng Sáng Tạo duy nhất là nguồn gốc của sự sống mình. Phần tiếp theo chúng ta sẽ khám phá mục đích mà Chúa Trời đã tạo dựng bạn và tôi là gì, cho ý nghĩa gì.


Hồng Nhạn dịch

Người Cha Chờ Đợi

Người ta nói với tôi rằng lần đầu tiên Sanh (tên nhân vật được giữ kín) lên lầu thượng của khách sạn, anh rất sửng sốt. Anh ta không bao giờ nghĩ rằng có những việc như vậy. Mỗi phòng có một cửa sổ nhìn ra hành lang và trong mỗi phòng có một cô gái. Một số trông lớn tuổi và đang đùa giỡn. Nhưng nhiều cô chỉ có mười hai hoặc mười ba, và có em nhỏ hơn nữa. Họ trông bối rối và sợ hãi.
Ảnh bởi Liane Metzler trên Unplash

Đây là lần đầu tiên Sanh bước vào thế giới mại dâm của xứ Bangkok. Tất cả đều bắt đầu trong sự ngây thơ khờ dại, nhưng chẳng bao lâu anh đã bị sa vào tội lỗi như một miếng gỗ trong một dòng sông giận dữ. Dòng sông này quá mạnh và quá nhanh đối với anh.

Chẳng bao lâu anh bắt đầu bán thuốc phiện cho những khách hàng và thương lượng để đưa du khách đến khách sạn. Anh đã hạ thấp đến độ giúp đỡ mua bán những thiếu nữ, thiếu niên, một vài em chỉ chín hoặc mười tuổi. Đây là một sự thương mại ghê tởm, và anh trở thành một trong những “nhà thương mại” trẻ tuổi và quan trọng.

Sanh trở thành một nhân vật chính yếu trong những nhà thương mại lớn nhất và ghê tởm nhất trên thế giới: kinh doanh về tình dục ở Thái Lan. Người ta ước lượng rằng có trên 10% của tất cả thanh thiếu niên nữ ở Thái Lan trở thành gái mại dâm. Những lầu thượng của đa số các khách sạn được dùng làm điều này. Những phòng sau của các sàn nhảy, tiệm rượu cũng vậy. Mặc dù việc làm này không được khuyến khích bởi gia đình vua chúa của Thái Lan, nhiều gia đình nghèo khổ vẫn bán con gái của họ để trả nợ. Ai biết được các em bé, nhiều em chỉ mười tuổi, nét mặt sợ hãi này sau này sẽ trở nên như thế nào sau khi các em không còn “hấp dẫn” nữa?

Sanh làm nhục gia đình và danh dự của cha mình. Anh đã đến Bangkok để trốn thoát khỏi cuộc sống buồn tẻ ở thôn quê. Anh ta đã tìm được sự thích thú, và khi sống giàu có trong cuộc sống bẩn thỉu này, anh đã trở nên rất nổi tiếng. Nhưng chẳng bao lâu, thế giới của anh bắt đầu sụp đổ. Nhiều điều không may đã xảy ra cho anh: anh bị cướp và khi bắt đầu gây dựng lại, anh bị bắt giam. Tất cả mọi việc đã thất bại. Có tiếng đồn trong xã hội đen rằng anh là mật vụ của cảnh sát. Cuối cùng, anh bị hất hủi và sống trong một xó bẩn thỉu kế bên đống rác trong thành phố.

Ngồi trong xó này, anh nhớ về gia đình anh, nhất là cha anh. Anh nhớ lời cha anh trước khi anh lìa nhà ra đi: “Cha đang chờ đợi con”. Cha anh là một Cơ Đốc nhân từ ở một làng ở miền nam, gần biên giới Mã Lai. Liệu cha anh vẫn chờ đợi anh sau tất cả những gì anh đã làm, gây hổ nhục cho danh dự của gia đình không? Liệu cha anh sẽ tiếp nhận anh về nhà sau khi anh đã khước từ tất cả những gì anh học về Chúa? Đã có tiếng đồn về đến thôn làng của gia đình anh về cuộc sống tội lỗi và tội ác của anh.
Cuối cùng anh ta nghĩ ra một chương trình.

Anh viết, “Cha yêu dấu, con muốn quay về nhưng con không biết cha sẽ nhận con sau khi tất cả những điều con đã làm. Con đã phạm tội rất lớn đối với cha, xin cha tha thứ cho con. Tối thứ bảy này con sẽ ngồi trên xe lửa đi ngang làng chúng ta. Nếu cha còn đợi chờ con, xin cha treo miếng vải trên cây bồ đề trước nhà cho con biết”.

Ảnh bởi Douglas Hawkins trên Unplash

Trên chuyến xe lửa về nhà, anh suy nghĩ về cuộc đời tội lỗi của anh. Anh biết cha anh có toàn quyền để từ chối gặp lại anh. và khi chiếc xe bắt đầu về đến làng, anh ta trở nên rất lo lắng. Anh sẽ phải làm gì nếu không có miếng vải treo trên cây trước nhà?

Ngồi đối diện với Sanh là một người lạ nhân từ đã để ý rằng chàng trai đồng hành với mình bắt đầu trở nên rất lo lắng. Cuối cùng Sanh không thể chịu đựng áp lực trong lòng nữa. Câu chuyện của anh tuôn tràn ra. Anh chia xẻ với người này tất cả. Khi họ bắt đầu vào làng, Sanh nói: “Ông ơi, tôi không thể nhìn được. Ông có thể nhìn xem cho tôi không? Nếu cha tôi không tiếp nhận tôi về nhà thì sao?”

Sanh vùi đầu mình giữa hai đầu gối. “Ông có thấy không? Trong làng chỉ có một nhà có cây bồ đề trước cửa”.

“Anh ơi, cha anh không có treo một miếng vải… Hãy nhìn xem! Này, ông ta đã bao phủ trọn cây bồ đề bởi rất nhiều tấm vải đỏ”. Sanh không thể tin được mắt anh. Thật vậy cây bồ đề đã được bao trùm, và trước sân người cha già của anh đang vui mừng nhảy nhót và đang vẫy một miếng vải đỏ! Người Cha của anh chạy đến gần xe lửa. Khi xe dừng tại trạm, người cha ôm chầm lấy người con, nước mắt tuôn ra vì vui mừng “Cha đã chờ đợi con!” ông ta lớn tiếng reo mừng. (*)

Câu chuyện này nhắc tôi đến câu chuyện trong Kinh Thánh ‘Người con trai hoang đàng’ đã được đăng tải. Nhưng giờ đây câu chuyện này có thể được nhìn từ lăng kính của một ‘Người cha chờ đợi’. Quả là một hình ảnh tuyệt đẹp về Chúa, là một người Cha, được bày tỏ qua câu chuyện này, thể hiện các khía cạnh phẩm chất của người cha, cũng là tấm lòng của Cha Trên Trời.


(*) Trích từ “Tấm Lòng Cha Trên Trời” bởi Floyd Mcclung Jr.